Sau khi tìm hiểu một cách tổng quát nhất về lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống tài chính Việt Nam, cấu trúc của hệ thống tài chính với bốn thành tố chính là: Thị trường tài chính, các tổ chức tài chính, các công cụ tài chính và cơ sở hạ tầng tài chính. 

Ảnh minh họa

1. Thị trường tài chính 

Có rất nhiều cách chia thị trường tài chính khác nhau. Các thuật ngữ về thị trường tài chính hay  được dùng sở Việt Nam ở thời điểm hiện tại gồm: thị trường vốn, thị trường tiền tệ, thị trường  ngoại hối. Sau đây là một số cách chia khác nhau. 

Dựa vào thời hạn của tín dụng, thị trường tài chính được chia làm hai loại là thị trường tiền tệ  (nơi giao dịch các công cụ tài chính có thời hạn dưới 1 năm) và thị trường vốn (nơi giao dịch các  công cụ tài chính có thời hạn trên 1 năm). Ở các nền kinh tế phát triển nói chung, thị trường tiền  tệ thường do các ngân hàng thực hiện. Đối với nhu cầu vốn trung dài hạn chủ yếu thực hiện theo  hình thức trực tiếp trên thị trường chứng khoán. Ngược lại, đối với Việt Nam có đặc thù riêng,  hầu hết vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đều do các ngân hàng thương mại cung cấp, các loại  thị trường khác đang có quy mô rất nhỏ. Hay nói cách khác, ở Việt Nam, việc huy động và phân    

Dựa trên loại tín dụng, hiện Việt Nam cũng đã có thị trường tín phiếu, thị trường trái phiếu, thị  trường cổ phiếu; thị trường vay nợ ngân hàng. Như trên đã nói, thị trường vay nợ ngân hàng là  chủ yếu. 

Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp: Việt Nam cũng đã có thị trường sơ cấp là nơi phát hành  chứng khoán lần đầu tiên. Trên thị trường này, khi phát hành chứng khoán, thường do một công  ty chứng khoán làm các thủ tục, tư vấn và một công ty chứng khoán khác bảo lãnh phát hành.  Trên thị trường thứ cấp, hiện có 26 loại cổ phiếu, một chứng chỉ của quỹ đầu tư VF1, các loại  trái phiếu chính phủ và trái phiếu của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam được giao dịch. 

Thị trường tập trung và thị trường phi tập trung: Ở Việt Nam, số lượng các doanh nghiệp giao  dịch trên thị trường tập trung là rất ít, trong khi các giao dịch trên thị trường phi tập trung là chủ  yếu. 

Thị trường chính thức và phi chính thức: Ngoài thị trường tài chính chính thức, nơi mà các ngân  hàng, các công ty tài chính, các công ty chứng khoán … hoạt động, ở Việt Nam còn có thị trường  phi chính thức là các hợp tác xã tín dụng, các tổ chức tín dụng vi mô ở nông thôn, hụi … hoạt  động. Các loại hình tín dụng phi chính thức này đóng một vai trò đáng kể trong phát triển kinh tế  xã hội Việt Nam. 

2. Các tổ chức tài chính 

Ở thời điểm cuối năm 2004, xét về quy mô của các tổ chức tài chính Việt Nam (chưa kể Quỹ hỗ  trợ phát triển và Bảo hiểm xã hội) thì tổng vốn mà các tổ chức này cung ứng ra nền kinh tế hoặc  huy động từ nền kinh tế đạt khoảng 450.000 tỷ đồng, xấp xỉ 70% GDP. Trong đó, tổng dư nợ cho  vay của các tổ chức tín dụng là 380.000 tỷ đồng, chiếm 85%; tổng số vốn trên thị trường chứng  khoán là 27.000 tỷ đồng, chiếm 6%; huy động của Tiết kiệm bưu điện là 30.000 tỷ đồng, chiếm  6,7%; thu phí bảo hiểm đạt khoảng 15.000 tỷ đồng, chiếm 3%. 

Trong các giáo trình, thường chia các tổ chức tài chính làm hai loại tổ chức tài chính ngân hàng  và tổ chức tài chính phi ngân hàng. Tuy nhiên, cách phân loại này chủ yếu tập trung vào các tổ  chức tài chính hoạt động kinh doanh mà ít đề cập đến các nhà tạo lập thị trường. Vì vậy, căn cứ  vào thực tiễn ở Việt Nam, bài viết chia ra các tổ chức tài chính hoạt động theo Luật các tổ chức  tín dụng, các tổ chức tài chính hoạt động trên thị trường chứng khoán, các công ty bảo hiểm hoạt  động theo Luật bảo hiểm và một số loại hình tổ chức tài chính khác. 

2.1.Ngân hàng Trung ương và các tổ chức tín dụng 

2.1.1. Ngân hàng Trung ương 

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Ngân hàng Nhà nước) là cơ quan của Chính phủ và là ngân  hàng trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.  

Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng;  là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và ngân hàng làm dịch vụ tiền tệ  cho Chính phủ.  

Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, góp phần bảo đảm an toàn  hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội theo  định hướng xã hội chủ nghĩa. 

Ngân hàng Nhà nước là một pháp nhân, có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước; có trụ sở chính  tại Thủ đô Hà Nội. 

2.1.2. Các tổ chức tín dụng 

Trước khi xem xét các loại hình tổ chức tín dụng thực tế tại Việt nam, chúng ta cùng tìm hiểu các  định nghĩa trong Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam về các tổ chức tín dụng năm 1997 và được  sửa đổi vào năm 2004: 

  • Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật các tổ chức tín  dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt động ngân hàng. 
  • Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và  các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các  loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư,  ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác. 
  • Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một số hoạt  động ngân hàng như là nội dung kinh doanh thường xuyên, nhưng không được nhận tiền  gửi không kỳ hạn, không làm dịch vụ thanh toán. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng gồm  công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác. 
  • Tổ chức tín dụng nước ngoài là tổ chức tín dụng được thành lập theo pháp luật nước  ngoài. 
  • Tổ chức tín dụng hợp tác là tổ chức kinh doanh tiền tệ và làm dịch vụ ngân hàng, do các  tổ chức, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập để hoạt động ngân hàng nhằm mục  tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống. Tổ chức tín  dụng hợp tác gồm ngân hàng hợp tác, quỹ tín dụng nhân dân và các hình thức khác. 
  • Các loại hình tổ chức tín dụng (theo sở hữu): Tổ chức tín dụng được thành lập theo pháp  luật Việt Nam bao gồm tổ chức tín dụng nhà nước, tổ chức tín dụng cổ phần, tổ chức tín  dụng hợp tác, tổ chức tín dụng liên doanh, tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài. Ngoài  ra còn có chi nhánh, văn phòng đại diện của ngân hàng nước ngoài tại Việt nam.

Các ngân hàng thương mại: Hiện ở Việt Nam có 5 ngân hàng thương mại quốc doanh chiếm hơn  70% thị phần tín dụng và huy động vốn; 37 ngân hàng cổ phần đô thị và nông thôn, chiếm 11%  thị phần tín dụng và huy động vốn; 27 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 4 ngân hàng liên doanh  chiếm 12% thị phần huy động vốn và tín dụng.  

Ngân hàng chính sách xã hội: Hiện có một ngân hàng chính sách xã hội thực hiện việc cấp tín  dụng cho các đối tượng chính sách. Tiền thân của ngân hàng này là Ngân hàng phục vụ người  nghèo thành lập năm 1995. 

Các công ty tài chính: Hiện có 5 công ty tài chính trực thuộc các tổng công ty lớn. Các công ty  tài chính này chủ yếu là dàn xếp tài chính cho tổng công ty mà nó trực thuộc. Ngoài ra trước năm  2003 còn có Công ty tài chính Sài gòn là một đơn vị độc lập không thuộc bất kỳ một tổng công  ty nào. Nhưng do những hạn chế của mô hình này hiện đã chuyển thành Ngân hàng thương mại  cổ phần Việt Á. 

Các công ty cho thuê tài chính: Hiện có 9 công ty cho thuê tài chính, trong đó có 3 liên doanh.  Sáu công ty còn lại trực thuộc 4 ngân hàng thương mại quốc doanh. Trong đó, Ngân hàng Đầu tư  và Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam có 2 công  ty. Nhìn chung hoạt động thuê mua tài chính còn nhiều hạn chế. Tổng số cho thuê của các công  ty này có một phần không nhỏ là tài sản của các ngân hàng mẹ thuê. 

Các quỹ tín dụng: có hai loại hình quỹ tín dụng là quỹ tín dụng trung ương và quỹ tín dụng khu  vực. Tổng số các hợp tác xã tín dụng là 898 và chiếm 1,5% thị phần huy động vốn và cho vay.  

Ngoài ra còn một số loại hình tổ chức tài chính khác hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng là  các công ty quản lý tài sản, các tổ chức cầm đồ… 

Tất cả các tổ chức tín dụng hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng và chịu sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Tổng dư nợ cho vay của hệ thống các tổ chức tín dụng Việt  Nam đạt gần 380.000 tỷ, xấp xỉ 60% GDP. Tổng vốn điều lệ của các tổ chức tín dụng Việt Nam  khoảng 33.500 tỷ đồng. 

2.2.Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước và các tổ chức hoạt động trên TTCK 

Uỷ ban chứng khoán nhà nước: Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước khi mới thành lập là cơ quan  trực thuộc Chính phủ, năm 2004 chuyển thành cơ quan trực thuộc Bộ tài chính. Uỷ ban Chứng  khoán Nhà nước có nhiệm vụ chính trong việc tổ chức và giám sát các hoạt động của thị trường  chứng khoán Việt Nam. 

Các công ty chứng khoán: Hiện có 13 công ty chứng khoán hoạt động với chức năng là các tổ  chức môi giới trên thị trường chứng khoán như lập các thủ tục phát hành, bảo lãnh phát hành  chứng khoán … 

Ngân hàng chỉ định thanh toán: Trên thị trường có 1 ngân hàng chỉ định thanh toán là Ngân  hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. 

Ngân hàng lưu ký chứng khoán: Hiện có 5 ngân hàng lưu ký chứng khoán. Công ty quản lý quỹ đầu tư: Hiện tại có 1 công ty quản lý quỹ đầu tư đang quản lý quỹ VF1.

Các công ty niêm yết: Hiện có 26 công ty niêm yết trên thị trường. Các công ty này chủ yếu là  các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá. 

Tổng số vốn giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam gần 27.000 tỷ đồng, bằng 4%  GDP. Trong đó, giá trị cổ phiếu bằng 3.195 tỷ đồng, chiếm 12% tổng giá trị thị trường, bằng  0,5% GDP. 

Ngoài ra còn có một số quỹ đầu tư đóng vai trò đáng kể trên thị trường chứng khoán nói riêng,  thị trường tài chính nói chung là Dragon Capital, Mekong Capital, Vinacapital, Indochina  Capital, Quỹ đầu tư mạo hiểm của tập đoàn dữ liệu quốc tế (IDG) và một số công ty quản lý quỹ  như Công ty quản lý quỹ đầu tư Việt Nam, Công ty quản lý quỹ Thành Việt, Công ty quản lý  quỹ Manulife và Công ty quản lý quỹ Prudential, Finance, FXF Vietnam. Các quỹ đầu tư này  vừa tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán, vừa đầu tư trực tiếp vào các doanh nghiệp. 

2.3.Các công ty bảo hiểm 

Các công ty bảo hiểm: Hiện có khoảng 24 công ty bảo hiểm đang hoạt động tại Việt Nam với  tổng vốn điều lệ gần 5.000 tỷ đồng. Trong đó có 4 doanh nghiệp nhà nước, 7 công ty bảo hiểm  cổ phần, 7 công ty bảo hiểm liên doanh và 6 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Trên thị  trường bảo hiểm phi nhân thọ, Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) chiếm thị phần chủ  yếu. Trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, ba doanh nghiệp có thị phần lớn nhất là Bảo Việt,  Prudential và AIA. Các công ty bảo hiểm hoạt động theo Luật bảo hiểm và chịu sự quản lý của  Bộ Tài chính. 

Quy mô thị trường: Tổng số thu phí bảo hiểm năm 2004 gần 12.500 tỷ đồng, trong đó doanh thu  từ bảo hiểm nhân thọ chiếm khoảng 2/3 tổng số doanh thu của bảo hiểm. Doanh thu của các  doanh nghiệp bảo hiểm chủ yếu tập trung đầu tư vào trái phiếu và gửi tại các ngân hàng thương  mại. 

2.4.Một số loại hình tổ chức tài chính khác 

Quỹ lương hưu: hiện Việt Nam chưa có quỹ lương hưu, nhưng có một quỹ rất lớn đó là bảo hiểm  xã hội Việt Nam. Phần thặng dư của Bảo hiểm xã hội Việt Nam chủ yếu chuyển sang Quỹ Hỗ trợ  phát triển. 

Tiết kiệm bưu điện: Đây là tổ chức thực hiện các loại hình huy động tiết kiệm nhỏ lẻ dựa trên hệ  thống bưu cục rộng khắp của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam. Tổng số vốn Tiết  kiệm bưu điện huy động được gần 30.000 tỷ đồng. Phần huy động này chủ yếu chuyển giao sang  cho Quỹ hỗ trợ Phát triển. 

Quỹ hỗ trợ phát triển và các quỹ đầu tư phát triển của các tỉnh, thành phố: Quỹ hỗ trợ phát triển  là tổ chức cấp tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước (tín dụng chỉ định) cho các dự án. Quỹ này  trực thuộc Bộ tài chính. Các quỹ đầu tư phát triển địa phương trực thuộc các uỷ ban nhân dân  tỉnh, thành phố. Các quỹ này có nhiệm vụ cho vay các dự án theo định hướng phát triển của từng  địa phương. Quỹ hỗ trợ phát triển và các quỹ đầu tư phát triển của các địa phương hoạt động  không chịu sự chi phối của Luật các tổ chức tín dụng và không chịu sự giám sát của Ngân hàng  Nhà nước. 

Trong các giáo trình thường chia các công cụ tài chính trên thị trường vốn, thị trường tiền tệ, thị  trường ngoại hối, công cụ tài chính phái sinh … Việc chia này cũng có tính chất tương đối vì  nhiều loại công cụ tài chính được giao dịch trên nhiều thị trường khác nhau. Ví dụ: các loại công  cụ tài chính phái sinh có thể được giao dịch trên thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị ngoại hối,  thị trường nông sản… hay ở Việt Nam, trái phiếu chính phủ vẫn có thể giao dịch trên thị trường  tiền tệ,.. 

Hiện tại trên thị trường tài chính Việt Nam có các loại công cụ tài chính sau: 

Các khoản cho vay của các ngân hàng và các tổ chức tài chính khác: Phần này chiếm tỷ trọng  chủ yếu trong việc phân phối vốn cho nền kinh tế. 

Trái phiếu chính phủ: Tổng giá trị trái phiếu chính phủ giao dịch trên thị trường chứng khoán là  24.000 tỷ đồng. Ngoài ra trái phiếu chính phủ còn được phát hành thông qua hệ thống các kho  bạc nhà nước địa phương. 

Tín phiếu kho bạc: Loại này do Kho bạc nhà nước phát hành và được đấu giá chủ yếu thông qua  thị trường mở của Ngân hàng nhà nước. Đây là một công cụ huy động nguồn vốn cho chi tiêu  ngân sách rất quan trọng của chính phủ. 

Trái phiếu đô thị: Do các chính quyền địa phương (tỉnh, thành phố) phát hành. Hiện tại mới có  thành phố Hồ Chí Minh phát hành loại trái phiếu này. Các địa phương khác thích dùng tín dụng  qua ngân hàng hơn. 

Trái phiếu công ty: Loại này tương đối ít, chủ yếu do các ngân hàng thương mại và các tổ chức  tài chính phát hành. Hiện nay có hai loại trái phiếu đang được giao dịch tương đối phổ biến trên  thị trường là trái phiếu của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và Trái phiếu của Tổng  công ty dầu khí Việt Nam. 

Chứng chỉ tiền gửi: Theo phân loại trong các giáo trình thì chứng chỉ tiền gửi là công cụ tài  chính của thị trường tiền tệ, nhưng đặc trưng của Việt Nam, chứng chỉ tiền gửi là một loại giấy  tờ có giá do các ngân hàng phát hành có thời hạn trên 1 năm với những đặc điểm tương tự như  trái phiếu. Loại hình giấy tờ có giá do các ngân hàng thương mại phát hành có thời hạn dưới một  năm được gọi là kỳ phiếu. 

Cổ phiếu: Hiện ở Việt Nam đã có rất nhiều công ty cổ phần nên loại hình này tương đối phổ  biến. Tuy nhiên mới chỉ có 26 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán, với tổng giá trị cổ  phiếu chiếm khoảng 0,5% GDP. Đây là một con số rất khiêm tốn. 

Hợp đồng mua lại chứng khoán: Hiện nay chưa có giao dịch chính thức. 

Phiếu nợ thương mại (thương phiếu): Hiện đã có pháp lệnh về thương phiếu, nhưng hầu như  chưa có doanh nghiệp nào phát hành thương phiếu. 

Hối phiếu có ngân hàng chấp thuận: Hiện loại hình này thực hiện trong các giao dịch ngoại  thương.

Vay liên ngân hàng: Đây là loại hình giao dịch rất phổ biến giữa các ngân hàng thương mại với  nhau. Các loại hình cho vay phổ biến gồm, cho vay qua đêm, cho vay có kỳ hạn 3 tháng, 6 tháng. 

Euro Đô-la: Ở Việt Nam không có công cụ này. 

Vay thế chấp mua bất động sản: Hiện ở Việt Nam đã có công cụ này và các ngân hàng thương  mại cổ phần đi đầu trong việc cho vay theo phương thức này. 

3. Các loại công cụ tài chính phái sinh 

Hợp đồng kỳ hạn (Forward contract): Hiện trên thị trường Việt Nam có loại hình giao dịch này  và chủ yếu là các hợp đồng mua bán ngoại tệ. 

Hợp đồng tương lai (Future contract): Hiện ở Việt Nam chưa có.  

Hoán đổi (Swap): Hiện ở Việt Nam đã có loại hình này, nhưng lượng giao dịch rất hạn chế. Các  giao dịch chủ yếu được thực hiện trên thị trường ngoại hối. Các loại hình hoán đổi khác như lãi  suất … hầu như chưa xuất hiện. 

Quyền chọn: Hiện một số ngân hàng Việt Nam đã có loại hình giao dịch này, nhưng khối lượng  giao dịch là rất hạn chế. Chưa có tổ chức tài chính nào thực sự bán quyền chọn mà chỉ thực hiện  dưới hình thức là các trung gian. 

4. Cơ sở hạ tầng tài chính 

Hệ thống luật pháp và quản lý của nhà nước: Tính đến thời điểm hiện tại, với bối cảnh và điều  kiện thực tiễn ở Việt Nam thì hệ thống luật pháp được đánh giá là tương đối đầy đủ để hệ thống  tài chính hoạt động. Hiện đã có Luật Ngân sách nhà nước, Luật Ngân hàng nhà nước, Luật các tổ  chức tín dụng, Luật bảo hiểm. Dự kiến năm 2006 Luật chứng khoán sẽ ra đời (hiện tại văn bản  cao nhất quy định về tổ chức và hoạt động của thị trường chứng khoán là Nghị định của chính  phủ). Tuy nhiên vấn đề quản lý nhà nước chưa thực sự đồng bộ và thống nhất. Một số tổ chức có  quy mô hoạt động tín dụng rất lớn nhưng không chịu sự chi phối của Luật các tổ chức tín dụng  và chịu sự giám sát của Ngân hàng nhà nước như Quỹ Hỗ trợ phát triển và các quỹ đầu tư phát  triển địa phương. Tổng tài sản của Quỹ hỗ trợ phát triển có thể lớn hơn tổng tài sản của ngân  hàng thương mại lớn nhất Việt Nam là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. 

Nguồn lực và thông lệ giám sát: Theo đánh giá thì nguồn lực và các thông lệ giám sát chưa đáp  ứng nhu cầu cho hệ thống tài chính hoạt động lành mạnh, phát triển bền vững và hội nhập quốc  tế. 

Cung cấp thông tin: Hiện nay các ngân hàng nói riêng, các tổ chức tài chính nói chung đang từng  bước áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế. Các quy định về kiểm toán vẫn chưa thực sự đầy  đủ và được tuân thủ một cách nghiêm ngặt. Hiện vẫn chưa có hệ thống lưu trữ thông tin tín dụng  và tổ chức xếp loại tín dụng đủ độ tin cậy. Hiện trung tâm thông tin tín dụng (CIC) của Ngân  hàng Nhà nước Việt Nam đang đảm nhận nhiệm vụ này. Tuy nhiên để trở thành một tổ chức có  độ tin cậy cao thì CIC còn rất nhiều việc phải làm. 

Hệ thống thanh toán: Trước năm 2000, hầu hết các tổ chức tài chính ở Việt Nam sử dụng hệ  thống thanh toán phân tán. Nhưng từ năm 2000 đến nay, các tổ chức tài chính, nhất là các ngân hàng thương mại đã xây dựng hệ thống thanh toán tập trung. Từ năm 2002, Ngân hàng Nhà nước  Việt Nam đã triển khai hệ thống thanh toán liên ngân hàng. Đây là một bước tiến trong việc áp  dụng công nghệ thanh toán của hệ thống tài chính Việt Nam. Khi tất cả các ngân hàng xây dựng  xong hệ thống này thì công nghệ thanh toán của hệ thống tài chính Việt Nam là đảm bảo. 

Với những nội dung nêu trên, nhóm của ông Cải Cách tạm thời kết thúc việc tìm hiểu về hệ  thống tài chính Việt Nam. Trên cơ sở nhận dạng hệ thống tài chính Việt Nam kết hợp với những  kiến thức và kinh nghiệm hiện có, nhóm của ông Cải Cách mong muốn có thể tư vấn cho phía  Việt Nam những chính sách, giải pháp hữu hiệu nhất, nhằm cải cách, củng cố và phát triển hệ  thống tài chính Việt Nam tương xứng với vai trò của nó trong phát triển kinh tế xã hội.  

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *